✨ ƯU ĐÃI GIÁ SỈ KHI MUA TRÊN 2 SẢN PHẨM
- Mua từ 2 sản phẩm → Giảm ngay 3%
- Mua từ 3–4 sản phẩm → Giảm đến 5%
- Mua từ 5 sản phẩm trở lên → Giảm đến 10%
✔ Áp dụng tự động tại giỏ hàng
✔ Không cần mã giảm giá
✔ Áp dụng cho hầu hết sản phẩm trên website
✨ COMBO SALE – MUA CHUNG TIẾT KIỆM HƠN
Combo được nhà thuốc chọn sẵn – Tiết kiệm hơn mua lẻ (Xem thêm)
- Combo 2–3 sản phẩm → Giá ưu đãi tốt hơn mua riêng
- Combo dùng 1–2 tháng → Tiết kiệm đến 10–20%
- Phù hợp cho cá nhân, gia đình, mua dùng dài ngày
✔ Sản phẩm chính hãng – nguồn gốc rõ ràng
✔ Hóa đơn đầy đủ – tư vấn dược sĩ khi cần.
Đặc điểm nổi bật của Thuốc tránh thai YAZ - Hộp 28 viên
1. Thành phần chi tiết
Vỉ thuốc được thiết kế gồm 28 viên với hai loại khác nhau:
24 viên màu hồng nhạt (chứa hormone): Mỗi viên chứa 0,02mg Ethinylestradiol và 3mg Drospirenone.
4 viên màu trắng (không chứa hormone): Đóng vai trò là viên giả dược để duy trì thói quen uống thuốc liên tục.
2. Công dụng chính
Tránh thai: Tỷ lệ thất bại chỉ khoảng 1%/năm nếu được sử dụng chính xác.
Trị mụn: Dành cho phụ nữ mụn trứng cá mức độ trung bình có liên quan đến hormone.
Hội chứng PMDD: Giảm các triệu chứng rối loạn tâm lý tiền hành kinh.
3. Cách dùng và Xử trí khi quên thuốc
Cách dùng: Uống 1 viên/ngày vào cùng một thời điểm, liên tục trong 28 ngày theo đúng thứ tự trên bao bì. Bắt đầu viên đầu tiên vào ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt.
Xử trí khi quên viên màu hồng (chứa hormone):
Dưới 24 giờ: Uống ngay khi nhớ ra, hiệu quả tránh thai không đổi.
Trên 24 giờ: Hiệu quả có thể giảm. Tùy vào thời điểm quên (tuần 1, 2 hoặc 3) mà có các cách xử lý khác nhau như uống bù, dùng thêm bao cao su trong 7 ngày hoặc bắt đầu vỉ mới ngay lập tức.
Lưu ý: Nếu bị nôn hoặc rối loạn tiêu hóa nặng trong vòng 3-4 giờ sau khi uống, cần áp dụng các biện pháp như khi quên thuốc.
4. Chống chỉ định (Những ai không được dùng)
Cần ngừng thuốc ngay lập tức nếu xuất hiện hoặc có tiền sử mắc các tình trạng sau:
Huyết khối, tắc mạch động mạch/tĩnh mạch, nhồi máu cơ tim hoặc tai biến.
Tiểu đường có tổn thương mạch máu hoặc bệnh gan/thận nặng.
Đau nửa đầu có triệu chứng thần kinh khu trú.
Có khối u (lành tính hoặc ác tính) liên quan đến cơ quan sinh dục hoặc vú.
Chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân hoặc đang nghi ngờ có thai.
5. Lưu ý
- Thận trọng khi sử dụng
Rối loạn tuần hoàn
Các nghiên cứu dịch tễ đã chỉ ra mối liên quan giữa việc sử dụng COCs với nguy cơ gia tăng bệnh huyết khối động mạch và tĩnh mạch, thuyên tắc huyết khối như nhồi máu cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc nghẽn mạch phổi, tổn thương mạch máu não. Những tai biến này hiếm khi xảy ra.
Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) là cao nhất trong năm đầu tiên sử dụng. Nguy cơ tăng lên này khi bắt đầu lần đầu sử dụng COCs hoặc bắt đầu lại (sau 4 tuần hoặc khoảng nghỉ thuốc dài) cùng một loại hoặc khác loại COCs. Từ dữ liệu đầy đủ chi tiết của nghiên cứu thuần tập, tiến cứu 3 nhánh gợi ý rằng nguy cơ tăng lên này chủ yếu xuất hiện trong 3 tháng đầu.
Nhìn chung các nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người sử dụng COCs với estrogen liều thấp (< 50 μg ethinylestradiol) cao hơn từ 2 tới 3 lần những người không dùng COCs không mang thai và vẫn thấp hơn so với nguy cơ thuyên tắc do mang thai và sinh đẻ.
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có thể đe doạ tính mạng hoặc gây tử vong (trong 1-2% các ca).
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE), biểu hiện như huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc nghẽn mạch phổi có thể xảy ra trong quá trình sử dụng tất cả các COCs.
Rất hiếm khi huyết khối được báo cáo xảy ra ở các mạch máu khác như gan, mạc treo, thận, tĩnh mạch và động mạch võng mạc hoặc não.
Các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch sâu có thể bao gồm: sưng một bên chân hoặc dọc theo tĩnh mạch chân, đau hoặc tổn thương chỉ có thể cảm nhận được khi đứng lên hoặc đi lại, tăng sức nóng ở chân bị bệnh, da chân đỏ hoặc đổi màu.
Các triệu chứng của tắc mạch phổi (PE) bao gồm: đột nhiên thở dốc hoặc thở nhanh không rõ nguyên nhân, đột nhiên ho ra máu, đau ngực có thể tăng lên khi thở sâu, cảm giác lo lắng, chóng mặt, nhịp tim nhanh hoặc bất thường, một số triệu chứng như ho, khó thở là không rõ ràng và có thể hiểu nhầm như là các trường hợp ít nghiêm trọng khác như nhiễm trùng đường hô hấp.
Thuyên tắc động mạch có thể bao gồm: tổn thương mạch máu não, tắc mạch hoặc nhồi máu cơ tim (MI). Các triệu chứng tổn thương mạch não có thể bao gồm: đột nhiên tê hoặc yếu ở mặt, tay, chân, đặc biệt là ở một bên của cơ thể. Đột nhiên nhầm lẫn, nói khó và hiểu khó. Đột ngột mất một phần hoặc hoàn toàn thị lực, song thị.
Đột nhiên đi lại khó khăn, mất cân bằng hoặc phối hợp, đột nhiên nhức đầu nặng hoặc kéo dài không rõ nguyên nhân, mất ý thức hoặc ngất khi có hoặc không có động kinh. Các dấu hiệu khác của tắc mạch có thể bao gồm: đau, sưng, đổi màu xanh nhẹ ở đầu chi, đau bụng cấp.
Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim có thể bao gồm: đau, khó chịu, nặng nề, áp lực, cảm giác ép hoặc nặng ngực, tay và ở dưới xương ức, khó chịu ở phần lưng, hàm, họng, cánh tay, dạ dày. Đầy, khó tiêu, cảm giác nghẹt thở; đổ mồ hôi, buồn nôn, nôn, chóng mặt, suy yếu, lo lắng, khó thở, tim đập nhanh hoặc không đều.
Các trường hợp thuyên tắc động mạch có thể đe doạ tính mạng hoặc gây tử vong.
Khả năng làm tăng nguy cơ hiệp lực gây huyết khối nên được cân nhắc ở những phụ nữ có phối hợp nhiều yếu tố nguy cơ hoặc cho thấy mức độ trầm trọng hơn của một yếu tố nguy cơ đơn lẻ. Nguy cơ tăng này có thể còn quan trọng hơn nguy cơ tích lũy của những yếu tố nguy cơ đơn giản. Không nên kê đơn thuốc COCs trong trường hợp đánh giá lợi ích thấp hơn nguy cơ. (xem phần Chống chỉ định).
Tăng nguy cơ của các trường hợp thuyên tắc huyết khối động mạch, tĩnh mạch, tai biến mạch máu não với:
- Tuổi.
- Béo phì (chỉ số khối cơ thể trên 30 kg/m2).
- Tiền sử gia đình (ví dụ như thuyên tắc huyết khối động mạch, tĩnh mạch ở anh chị em ruột, bố mẹ ở tuổi tương đối trẻ). Nếu khuynh hướng di truyền được biết đến hoặc nghi ngờ thì người phụ nữ nên được chỉ dẫn tới chuyên khoa để được tư vấn trước khi quyết định sử dụng COCs.
- Bất động lâu dài, phẫu thuật lớn, bất cứ cuộc phẫu thuật ở chân, hoặc các tổn thương lớn. Trong những trường hợp này nên ngừng sử dụng thuốc (nếu phẫu thuật chương trình thì nên ngưng thuốc trước 4 tuần) và không dùng lại cho đến 2 tuần sau khi hồi phục hoàn toàn.
- Hút thuốc (nghiện thuốc lá càng nặng và tuổi càng cao thì nguy cơ càng cao, đặc biệt là phụ nữ trên 35 tuổi).
- Rối loạn protein huyết.
- Tăng huyết áp.
- Đau nửa đầu.
- Bệnh van tim.
- Rung nhĩ.
Chưa có sự thống nhất quan điểm về vai trò của giãn tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nông do huyết khối trong VTE.
Gia tăng nguy cơ thuyên tắc do huyết khối trong thời kỳ thai sản cần phải được xem xét (các thông tin về có thai và cho con bú xem phần “có thai và cho con bú”).
Các trường hợp bệnh lý khác đi kèm với tai biến tuần hoàn ngoại ý bao gồm: Đái tháo đường, Lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng tăng ure máu do tán huyết, viêm ruột mãn tính (bệnh Crohn's hoặc viêm loét đại tràng) và bệnh hồng cầu hình liềm.
Tăng tần suất và mức độ nặng của các cơn đau nửa đầu trong quá trình sử dụng cocs (có thể là tiền triệu của tai biến mạch máu não) cũng có thể là 1 lý do để ngừng ngay lập tức COCs.
Các yếu tố sinh hóa chứng tỏ bản chất di truyền hoặc mắc phải đối với chứng huyết khối động mạch, tĩnh mạch bao gồm: đề kháng Protein C hoạt hóa (APC), tăng homocystein máu, thiếu antithrombin III, thiếu Protein C, thiếu Protein S, kháng thể kháng phospholipid (kháng thể kháng cardiolipin, yếu tố lupus chống đông).
Khi phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ, các bác sỹ nên lưu ý việc điều trị đầy đủ tình trạng mà có thể giảm thiểu các nguy cơ huyết khối và cũng nên lưu ý rằng nguy cơ huyết khối liên quan với thai kỳ cao hơn nguy cơ huyết khối liên quan với COCs liều thấp (< 0,05 mg ethinylestradiol).
Khối u
Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư cổ tử cung là nhiễm HPV kéo dài. Một số nghiên cứu dịch tễ chỉ ra rằng quá trình sử dụng lâu dài COCs có thể góp phần tăng thêm nguy cơ này, nhưng vẫn tiếp tục có những ý kiến trái ngược nhau về các kết quả này do các yếu tố gây nhiễu như tầm soát cổ tử cung và hành vi tình dục, sử dụng biện pháp tránh thai màng chắn.
Tổng phân tích từ 54 nghiên cứu dịch tễ báo cáo rằng có một chút tăng nhẹ nguy cơ tương đối của ung thư vú (RR = 1,24) trong những phụ nữ hiện đang sử dụng COCs. Nguy cơ quá mức dần dần biến mất trong thời gian 10 năm sau khi ngừng sử dụng COCs. Bởi vì ung thư vú là rất hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, số lượng ung thư quá mức được chẩn đoán ở những người gần đây và đang sử dụng COCs là nhỏ so với nguy cơ ung thư vú nói chung. Các nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về nguyên nhân. Cách ghi nhận tăng nguy cơ ung thư vú có thể do ở những người sử dụng COCs được chẩn đoán sớm hơn, hoặc do các tác dụng sinh học của COCs hoặc kết hợp cả hai. Các chẩn đoán ung thư vú ở những người đã từng sử dụng COCs có xu hướng ít tiến triển trên lâm sàng hơn so với ung thư được chẩn đoán trên những người chưa từng dùng COCs.
Trong các trường hợp hiếm gặp, u gan lành tính, hay thậm chí hiếm hơn nữa là các khối u gan ác tính, đã được báo cáo ở những người sử dụng COCs. Ở các trường hợp cá biệt, các khối u đã dẫn tới nguy hiểm tính mạng do xuất huyết trong ổ bụng. Khối u gan cần được chẩn đoán phân biệt khi đau thượng vị dữ dội, gan to hoặc có dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng ở những những phụ nữ uống COCs.
Các khối u ác tính có thể đe doạ tính mạng hoặc gây tử vong.
Các tình trạng khác
Nguy cơ lý thuyết tăng kali máu có thể được giả định chỉ dành cho các bệnh nhân suy thận, những người trước khi điều trị kali huyết thanh là ở phía trên giá trị tham chiếu, và những người sử dụng thuốc lợi tiểu giữ kali.
Những phụ nữ triglyceride huyết tăng cao, hoặc có tiền sử gia đình về bệnh này, có thể gia tăng nguy cơ viêm tụy khi sử dụng COCs.
Tuy huyết áp tăng nhẹ đã được báo cáo trên những phụ nữ uống COCs, nhưng hiếm khi thấy sự gia tăng trên lâm sàng. Tuy vậy, nếu tăng huyết áp có ý nghĩa lâm sàng kéo dài trong khi dùng COCs, thì bác sĩ cần thận trọng ngưng dùng COC và điều trị tăng huyết áp. Khi thích hợp, có thể dùng lại COCs nếu có thể đạt được trị số huyết áp bình thường bằng điều trị tăng huyết áp.
Các bệnh sau đây được báo cáo xảy ra hoặc diễn tiến xấu đi trong khi có thai và người sử dụng COCs, nhưng chưa có bằng chứng dứt khoát về sự kết hợp với sử dụng COCs: bệnh vàng da, bệnh ngứa có liên quan tới tắc mật; sỏi mật; rối loạn chuyển hóa porphyrin, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng tăng ure huyết do tán huyết, múa giật Sydenham, Herpes sinh dục; giảm thính lực do xốp xơ tai.
Ở những phụ nữ phù mạch di truyền, estrogen ngoại sinh có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm triệu chứng phù mạch.
Các rối loạn chức năng gan cấp tính hoặc mãn tính đòi hỏi phải ngưng sử dụng COCs cho tới khi các chức năng gan trở lại bình thường. Bệnh vàng da tắc mật đã xảy ra lần đầu trong 3 tháng đầu của thai kỳ hoặc trong khi sử dụng các steroid sinh dục trước đây đòi hỏi phải ngưng sử dụng COCs.
Mặc dù các COCs có thể ảnh hưởng tới sự đề kháng Insulin ngoại biên và dung nạp glucose, không có bằng chứng cho một cần thiết phải thay đổi phác đồ điều trị ở bệnh nhân tiểu đường sử dụng COCs liều thấp (chứa < 0,05 mg ethinylestradiol). Tuy nhiên những phụ nữ bị bệnh tiểu đường nên được theo dõi cẩn thận khi dùng các COCs.
Bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại tràng có liên quan tới sử dụng COCs.
Nám da thỉnh thoảng có thể xảy ra, đặc biệt là ở những phụ nữ có tiền sử nám da khi có thai. Những phụ nữ có xu hướng nám da nên tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc bức xạ tia cực tím khi dùng COCs.
Mỗi viên màu hồng nhạt có hoạt tính chứa 48,180 mg lactose và mỗi viên màu trắng không hoạt tính chứa 23,205 mg lactose. Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm như không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose là những người có chế độ ăn không lactose nên cân nhắc lượng về lactose trong thuốc.
Thăm khám, tư vấn
Các phụ nữ nên được khuyến cáo rằng thuốc tránh thai đường uống không có tác dụng bảo vệ chống lại nhiễm HIV (AIDS) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Giảm hiệu quả
Hiệu quả của COCs có thể bị giảm trong các trường hợp như quên uống các viên nén bao phim màu hồng sáng có chứa hormone, rối loạn tiêu hóa (phần “Các tư vấn trong trường hợp rối loạn tiêu hóa”) trong quá trình uống viên nén bao phim màu hồng sáng hay uống các thuốc khác có tương tác với ( phần “Tương tác với các dược phẩm khác và các hình thức tương tác khác).
Giảm kiểm soát chu kỳ
Với tất cả các COCs, có thể xảy ra chảy máu bất thường (rỉ máu, chảy máu giữa chu kỳ), đặc biệt là trong những tháng đầu sử dụng.
Ở một số phụ nữ có thể không ra kinh khi uống các viên nén bao phim màu trắng không có hormone. Nếu COCs được sử dụng theo đúng các mô tả trong phần “Liều lượng và cách dùng” thì ít có khả năng người phụ nữ mang thai. Tuy nhiên nếu COCs không được dùng đúng theo các hướng dẫn trước thời điểm trễ kinh hoặc có 2 đợt không thấy ra huyết, cần loại trừ có thai trước khi tiếp tục dùng COCs.
- Thai kỳ và cho con bú
Phụ nữ có thai
Yaz không được chỉ định trong thời gian mang thai. Nếu mang thai xảy ra trong quá trình sử dụng Yaz, phải ngừng thuốc ngay. Tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ trên diện rộng cho thấy không có sự gia tăng dị tật bẩm sinh ở trẻ em được sinh ra ở những phụ nữ sử dụng COCs trước khi mang thai và cũng không có tác dụng sinh quái thai khi COCs được sử dụng một cách tình cờ trong giai đoạn đầu của mang thai.
Các dữ liệu hiện tại về việc sử dụng Yaz trong thời kỳ mang thai rất hạn chế để cho phép kết luận về tác dụng bất lợi của Yaz trong khi mang thai, sức khỏe của bào thai và trẻ sơ sinh. Không có các dữ liệu dịch tễ học liên quan có giá trị.
Cho con bú
Cho con bú có thể bị ảnh hưởng bởi COCs do chúng làm giảm số lượng và thay đổi các thành phần của sữa mẹ. Bởi vậy việc sử dụng COCs thường không được khuyến cáo cho tới khi người mẹ đã hoàn toàn cai sữa cho trẻ. Một số lượng nhỏ các steroid tránh thai và/hoặc các chất chuyển hóa của nó có thể được bài tiết vào sữa.
- Tương tác thuốc
Chú ý: Thông tin của các thuốc được sử dụng cùng với Yaz nên được xem xét để xác định các tương tác có thể xảy ra.
Tác dụng của các thuốc khác lên Yaz
Tương tác có thể xảy ra với những thuốc gây cảm ứng các enzyme microsome mà có thể làm tăng độ thanh thải các hormone sinh dục và điều này có thể dẫn đến chảy máu giữa chu kỳ hoặc việc tránh thai thất bại.
Sự cảm ứng enzym có thể được quan sát thấy sau một vài ngày điều trị. Sự cảm ứng enzym mạnh nhất nhìn chung được nhận thấy trong một vài tuần. Sau khi ngừng sử dụng thuốc cảm ứng enzym có thể duy trì trong khoảng 4 tuần.
Những phụ nữ đang điều trị với bất kỳ các loại thuốc ở trên nên sử dụng thêm phương pháp màng chắn cùng với COCs hoặc chọn phương pháp tránh thai khác. Phương pháp màng chắn nên được sử dụng trong suốt thời gian dùng thuốc và kéo dài thêm trong 28 ngày sau khi ngưng, hormone hormone. Nếu trong suốt giai đoạn có sử dụng biện pháp màng chắn mà máu kinh xảy ra ngoài thời điểm kết thúc viên thuốc có chứa hormone, thì nên bỏ qua giai đoạn uống các viên thuốc không chứa hormone và bắt đầu luôn vỉ thuốc mới.
Các chất làm tăng độ thanh thải của các COCs (làm giảm hiệu quả của các COCs bằng các chất gây cảm ứng enzyme), ví dụ: Phenytoin, barbiturates, primidone, carbamazepine, rifampicin, và cũng có thể là oxcarbazepine, topiramate, felbamate, griseofulvin và các sản phẩm có chứa cỏ St John).
Các chất có tác động khác nhau lên độ thanh thải các COCs, ví dụ: Khi dùng cùng với các COCs, nhiều thuốc ức chế protease HIV/HCV và thuốc ức chế sao chép ngược không phải nucleoside có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ huyết tương của estrogen hoặc progestin. Những thay đổi này có thể có liên quan về mặt lâm sàng trong một vài trường hợp.
Các chất làm giảm độ thanh thải của các COCs (các men ức chế):
Chất ức chế CYP3A4 mạnh và trung bình như kháng nấm azole (ví dụ: itraconazole, voriconazole, fluconazole), verapamil, macrolides (ví dụ: clarithromycin, erythromycin), diltiazem và nước bưởi có thể làm tăng nồng độ huyết tương của estrogen hoặc progestin hoặc cả hai.
Trong một nghiên cứu đa liều sử dụng dạng phối hợp drospirenone (3 mg/ngày)/ethinylestradiol (0,02 mg/ngày), dùng cùng chất ức chế CYP3A4 mạnh ketoconazole trong 10 ngày đã làm tăng AUC(0-24h) của drospirenone và ethinylestradiol tương ứng gấp 2,68 lần (Khoảng tin cậy 90% CI: 2,44;2,95) và 1,4 lần (90% CI: 1,31; 1,49).
Liều Etoricoxib 60 đến 120 mg/ngày cho thấy làm tăng tương ứng nồng độ huyết tương của ethinylestradiol gấp 1,4 đến 1,6 lần khi uống cùng một thuốc tránh thai hocmon dạng kết hợp có chứa 0,035 mg ethinylestradiol.
Tác dụng của COCs trên các thuốc khác
Thuốc tránh thai đường uống có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của một số thuốc khác. Theo đó, nồng độ trong huyết tương và các mô có thể tăng lên (như cyclosporin) hoặc giảm đi (như lamotrigine).
Trên invitro, drospirenone có khả năng hạn chế từ yếu đến trung bình men cytochrome P450 CYP1A1, CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4.
Dựa trên tương tác in vivo trên các tình nguyện viên nữ sử dụng omeprazole, simvastatin và midazolam như là chất mang dấu ấn, một tương tác có liên quan về mặt lâm sàng của Drospirenone ở liều 3mg với chuyển hóa gián tiếp thông qua cytochrome P450 của các thuốc khác là hầu như không có.
Trên in vitro, ethinyl estradiol là một chất ức chế có thể phục hồi của CYP2C19, CYP1A1 và CYP1A2 cũng như là một chất ức chế dựa trên cơ chế của CYP3A4/5, CYP2C8, và CYP2J2. Trong các nghiên cứu lâm sàng, việc dùng thuốc tránh thai hocmon có chứa ethinylestradiol không dẫn đến bất kỳ việc tăng hoặc chỉ tăng 1 tuần nồng độ trong huyết tương của CYP3A4 (ví dụ midazolam) trong khi nồng độ trong huyết tương của CYP1A2 có thể tăng yếu (ví dụ theophylline) hoặc trung bình (ví dụ melatonin và tizanidine).
Các tương tác dược lực học
Sử dụng đồng thời các thuốc chứa ethinylestradiol với các thuốc kháng vi rút trực tiếp (DAA) chứa ombitasvir, paritaprevir hoặc dasabuvir và các kết hợp của các thuốc này được thấy rằng có liên quan đến sự tăng mức ALT tới hơn 20 lần mức giới hạn trên của mức bình thường ở những đối tượng phụ nữ khỏe mạnh và phụ nữ nhiễm HCV (xem mục Chống chỉ định).
Các dạng tương tác khác
Kali huyết thanh
Có một khả năng về mặt lý thuyết làm tăng kali huyết thanh ở những phụ nữ dùng những viên nén bao phim màu hồng sáng Yaz có chứa hormone với các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh.
Các xét nghiệm
Việc sử dụng các steroid tránh thai có thể ảnh hưởng đến nhiều kết quả xét nghiệm. Drospirenone là nguyên nhân tăng hoạt động của renin huyết thanh và aldosterone huyết tương tạo ra do tác dụng chống giữ muối nước nhẹ.



Thiết kế website bởi
Nhanh.vn